Tìm hiểu nội dung cơ bản về dân tộc bản địa

Written by Putra Podam
In category Tin tức
Oct 27, 2019, 10:41 PM

1. Hoàn cảnh ra đời về quyền bản địa theo hiến chương LHQ

 Đến thế kỷ 21, mặc dù tiến bộ xã hội đã đạt những thành tựu trong bình đẳng về quyền con người trên toàn thế giới, nhưng thực tế vẫn còn một nhóm người ở nhiều quốc gia bị nhiều thiệt thòi, dễ bị tổn thương, dễ bị vi phạm về quyền con người nhất là nhóm dân tộc bản địa và dân tộc thiểu số. Họ bị miệt thị và nhiều bất công, thường bị bóc lột, mù chữ và sống trong nghèo khổ.

Trước tình hình đó, việc nghiên cứu và tìm hiểu thực trạng cuộc sống của nhóm người này được thu hút sự quan tâm của các tổ chức nhân quyền trên trên thế giới.

 Từ năm 1982: Nhóm công tác về các dân tộc bản địa (the Working Group on Indigenous Populations) và sau đó là Diễn đàn thường trực về các vấn đề bản địa (the Permanent Forum on Indigenous Issues) đã tích cực nghiên cứu thúc đẩy việc thực hiện các quyền của những người bản địa.

 Năm 1993: Đại hội đồng Liên Hợp Quốc tuyên bố là năm quốc tế về các dân tộc bản địa (the International Year of the World's Indigenous People)

 Từ 1995-2004 là thập kỷ quốc tế về các dân tộc bản địa (the International Decade for the World's Indigenous People) nhằm tăng cường sự hợp tác quốc tế để giải quyết những vấn đề của cộng đồng người bản địa mà cơ bản nhất là quyền con người, phát triển, y tế, giáo dục, môi trường,…

 Năm 2007: Tuyên ngôn của Liên Hiệp Quốc về quyền của các dân tộc bản địa (the Declaration on the Rights of the Indigenous Peoples) được thông qua tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc theo Nghị quyết 61/295 ngày 13 tháng 9 năm 2007.

Cần lưu ý rằng Tuyên ngôn của Liên Hiệp Quốc (LHQ) về “Quyền của các dân tộc bản địa” (2007) có nhiều nội dung khác với Tuyên ngôn về “Quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ” được LHQ ban hành vào năm 1992 nhằm đảm bảo cho người bản địa được bảo vệ và thực hiện công bằng xã hội.

2. Khái niệm dân tộc thiểu số, dân tộc bản địa

 Dân tộc bản địa (indigenous peoples) và người thiểu số (minorities) là những khái niệm khác nhau được sử dụng chính thức trong các văn bản của Liên Hợp Quốc.

 Dân tộc thiểu số: là nhóm công dân của quốc gia có chủ quyền đến định cư tại một nước khác và được chính quyền công nhận họ như nhóm người có qui chế cư trú thường trực hay công dân của quốc gia này. Người Hoa, Thái, Lào, Ấn Ðộ, v.v. tại Việt Nam hôm nay là thành phần dân tộc thiểu số so với dân số của người Kinh, vì họ là thần dân của một quốc gia khác sang định cư tại Việt Nam.

 Dân tộc bản địa: là tập thể tộc người đã có mặt trên dải đất của họ đang sinh sống từ lâu đời. Trong suốt lịch sử thế giới từ trước đến nay, người bản địa sống ở những vùng đất trước khi những người định cư ở nơi khác đến. Họ phải chịu nhiều đau khổ và bất hạnh, bị xua đuổi, truy bức bởi những kẻ thực dân và những người đi xâm chiếm đất đai, của cải. Môi trường sống của họ thường bị tàn phá và đe dọa nặng nề (Theo Quyền của người Thiểu số và các dân tộc bản địa, tài liệu phổ biến của UNIFEM - Quỹ phát triển phụ nữ Liên hiệp quốc.)

 Ðó là hai khái niệm rõ ràng về dân tộc bản địa và dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, hai khái niệm này thường được sử dụng một cách nhầm lẫn ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, do tính chất nhạy cảm từ các góc độ chính trị, lịch sử, kinh tế, tôn giáo, chủng tộc, sắc tộc và xã hội.

Quyền dân tộc bản địa là công ước quốc tế phức tạp nhất đã diễn ra tại Liên Hiệp Quốc. Sau 20 năm thương thuyết gay go, Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc đã thông qua bản Tuyên Ngôn về quyền của các dân tộc bản địa (the Declaration on the Rights of the Indigenous Peoples) tại New York vào ngày 3 tháng 9 năm 2007. Việt Nam là thành viên của Liên Hiệp Quốc đã ký tên vào bản Tuyên Ngôn này.

Trong quá trình lịch sử thế giới, người dân bản địa phải chịu nhiều thống khổ và bất hạnh nhất bởi nhóm thực dân từ bên ngoài thường dùng quyền lực để xâm chiếm đất đai của họ. Kể từ đó, họ thường bị xua đuổi, truy bức và trở thành công dân ngoại lệ trong quốc gia mà họ đang sinh sống, trong khi đó đất đai họ đang sống là do tổ tiên của họ khai phá. Dân tộc Chăm là thành phần nằm trong nhóm người bất hạnh này.

3. Một số nội dung cơ bản về quyền bản địa

Tuyên ngôn được căn cứ trên 24 nguyên tắc mang tính cơ sở định hướng và nội dung chính gồm 46 điều. Một số nội dung cơ bản mà quyền người bản địa được nhấn mạnh là:

- Bên cạnh những nội dung về chống kỳ thị, phân biệt trong đối xử, các dân tộc bản địa có quyền tự quyết (Điều 3).

- Có quyền tự trị hay tự quản trong những vấn đề liên quan đến công việc nội bộ và địa phương của họ, cả những cách thức và phương tiện hỗ trợ tài chính để thực hiện chức năng tự trị (Điều 4).

 - Có quyền không bị cưỡng ép hay đồng hóa hay hủy hoại nền văn hóa của họ. Không được có bất kỳ hành động nào để tước đoạt đất đai, lãnh thổ và tài nguyên của họ. Không được ép buộc di dân làm tổn hại đến quyền của họ (Điều 8).

- Cần phải có sự đồng thuận, đền bù thỏa đáng và thông báo trước nếu có di dời và họ có khả năng quay lại nơi cũ khi có thể (Điều 10).

 - Các dân tộc bản địa có quyền thể hiện, thực hiện, phát triển và giảng dạy những truyền thống tôn giáo và tinh thần, phong tục tập quán, lễ hội của họ; có quyền duy trì, bảo vệ và riêng tư tiếp cận các điểm tôn giáo và văn hóa của họ; có quyền sử dụng và kiểm soát lễ vật của họ và có quyền hồi hương di hài của họ (Điều 12).

 - Có quyền khơi dậy, sử dụng, phát triển và truyền lại cho những thế hệ sau về lịch sử, ngôn ngữ, truyền thống truyền miệng, triết học, hệ thống chữ viết và văn học của họ; có quyền tạo lập và duy trì những tên gọi riêng của họ cho các cộng đồng, địa điểm và con người (Điều 13).

 - Các dân tộc bản địa có quyền tham gia vào việc ra quyết định về các vấn đề có ảnh hưởng tới những quyền của họ cũng như duy trì và phát triển các thiết chế ra quyết định của riêng họ (Điều 18).

 - Các dân tộc bản địa có quyền duy trì và tăng cường những mối quan hệ tâm linh riêng biệt với các đất đai, lãnh thổ, sông nước, vùng bờ biển và những tài nguyên khác do họ sở hữu, chiếm giữ, sử dụng từ xưa và nâng cao trách nhiệm của họ cho các thế hệ sau về mặt này (Điều 25).

 - Các dân tộc bản địa có quyền tiếp cận hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật từ những quốc gia và thông qua hợp tác quốc tế nhằm đảm bảo việc hưởng thụ các quyền được (Điều 39), v.v.

Chủ Tịch Trương Tấn Sang gặp Tổng Thư Ký LHQ ngày 27-7-2013 có hứa sẽ thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc tại quốc gia Việt Nam đa chủng.