Những mẫu chuyện của Po Dharma (Phần 2)

Written by Putra Podam
In category Nghiên cứu
Oct 27, 2019, 11:45 PM

Trong cộng đồng Chăm chúng ta, ai cũng biết rằng Po Dharma là một nhà khoa học lịch sử, có kiến thức uyên thâm về chuyên ngành và số lượng công trình xuất bản rất đồ sộ về văn hóa và lịch sử Champa. Những năm tháng trước khi sang Pháp du học và định cư, ông còn là một tướng quân đội Fulro cầm súng để bảo vệ các dân tộc thiểu số miền trung và Tây nguyên trước làn sóng cộng sản tràn vào đánh chiếm miền nam Việt nam. Có lẽ đi những năm tháng vào sinh ra tử nơi chiến trường, cùng với những hiểu biết lịch sử văn hóa sau nhiều năm nghiên cứu đã giúp ông trở thành một con người có bản lĩnh kiên cường, nghiêm túc trong khoa học và sắc xảo về ứng xử ngoại giao. Đặc biệt với cá tính thẳng thắn và cương trực, ông sẵn sàng đáp trả một cách khôn ngoan trước những tình huống “bắt bí” của đối phương, bất kể đó là ai khi có nhận thức chưa đúng hoặc xúc phạm dân tộc Chăm, văn hóa Chăm. Sau đây là những mẫu chuyện được chính Po Dahma chia sẻ trong những lần tôi được gặp ông, nay tôi xin phép lượt kể lại dưới đây để cộng đồng Chăm chúng ta hiểu thêm về tài ứng xử của ông.

1. Người Chăm có mê tín dị đoan hay không?

Trong một lần về dự hội thảo khoa học ở Hà Nội, Po Dharma có dịp gặp gỡ và trao đổi về nghiên cứu văn hóa với một số giáo sư Việt Nam (GSVN). Hôm ấy, một GSVN có câu hỏi: Đối với tháp Champa ngoài việc tổ chức lễ hội Katé của người Chăm Balamon để xin đấng thần linh Champa đem lại sự an bình và thịnh vượng cho cộng đồng, ngoài ra nhiều người Chăm còn hay lên tháp cúng bái rất tốn kém, điều này có mê tín dị đoan hay không?

Po Dharma liền trả lời, lần này nhân dịp ra Hà Nội để báo cáo hội thảo sớm hai ngày, hôm qua chủ nhật tôi có đi thăm Lăng Bác Hồ. Mọi người xếp thành hai hàng dài đợi vào Lăng giữa thời tiết nắng chang chang, mồ hôi ướt cả áo,… mất hơn 1 tiếng đồng hồ, mới được vào  Lăng. Trong khi vừa đi vừa nhìn hình Bác đang nằm trong Lăng, tôi cố tình đi chậm chậm để được nhìn kỷ hơn, nhưng rất tiếc nhân viên an ninh kéo tay tôi đi nhanh nhanh. Đi xong một vòng tôi muốn quay lại nhìn một lần nữa nhưng bị chặn lại buộc tôi phải ra ngoài. Khi ra ngoài khỏi Lăng, tôi liền đút tay vào túi quần bên phải và móc lên nhìn không thấy gì cả, sau đó tôi đút tay vào túi quần bên trái và móc lên cũng chẳng có gì,… tôi mất hơn 1 tiếng đồng hồ, xếp hàng giữa trời nắng oi bức để được vào Lăng, tôi tưởng ra khỏi Lăng Bác cho tôi tiền, nhưng tôi móc cả hai túi quần đều không thấy. Không chỉ mình tôi mà cả khách nước ngoài cũng như các em học sinh, sinh viên, các bà mẹ có công và nhiều người khác ao ước một lần để được vào Lăng Bác, nhưng cuối cùng Bác chẳng cho họ một cái gì.

Po Dharma nói tiếp, các quý vị xem, người Chăm của chúng tôi cũng như vậy, họ lên Tháp là để cầu xin đấng thần linh Champa phù hộ, để họ được khỏe mạnh và làm ăn sung túc. Sự việc người Chăm chúng tôi lên Tháp, nếu so sánh thì không có gì khác biệt với người Việt đi thăm Lăng Bác.

Po Dharma tiếp, nếu quý vị cho rằng những người đi thăm Lăng Bác có mê tín dị đoan hay không? Nếu cho rằng đó là mê tín dị đoan thì người Chăm chúng tôi lên Tháp champa mới là mê tín dị đoan.

Khi nghe Po Dharma nói đến đây, mọi người trong phòng không ai có ý kiến gì thêm.

Lời bàn: Po Dharma biết GSVN đứng trên quan niệm chủ nghĩa duy vật (theo học thuyết chủ nghĩa Mác-Lenin) để phê phán dân tộc Chăm là theo chủ nghĩa duy tâm, lên tháp cúng bái là mê tín dị đoan, tốn kém. Vì vậy Po Dharma đã lấy ví dụ tương phản về việc đi thăm Bác Hồ có được Bác cho tiền không mà sao mọi người vẫn xếp hàng dài để thăm Bác. Po Dahma đã rất khôn ngoan khi chọn ví dụ về thăm lăng Bác Hồ thì không ai dám phản biện lại. Thứ hai là Po Dahma đã khéo léo phê phán chủ nghĩa duy vật là chỉ biết đến vật chất mà không chú trọng đời sống tinh thần, tín ngưỡng và văn hóa tâm linh. Thứ ba là sự so sánh rất tinh tế về tín ngưỡng, người Chăm thì có đền tháp của tổ tiên để lại thật đáng tự hào. Con cháu dân tộc Champa muốn cầu nguyện thần linh, ngắm nhìn, thưởng thức những nét độc đáo về kiến trúc hay kiểu dáng đều được tự do thoải mái. Ẩn ý của Po Dharma trong ví dụ này là nếu xem thường thần linh Champa và cho là mê tín dị đoan thì việc thăm lăng Bác chỉ là một xác chết người phàm lại không cho dừng lại để ngắm nhìn mà còn bị an ninh xua đi nhanh, thì cũng chẳng có gì là độc đáo.

Có lẽ vì những lý do trên mà khi nghe Po Dhama trả lời, không ai phát biểu gì thêm.

2. Akhar Thrah có chữ viết in Hoa không?

Sau khi dự hội thảo tại Hà Nội xong, Po Dharma có kế hoạch đi thăm Ban Biên Soạn Sách chữ Chăm (BBSSCC) tại Ninh Thuận. Khi đoàn xe đến BBSSCC, Po Dharma nhìn trước cửa phòng BBSSCC có thấy hàng băng rôn chào mừng viết bằng chữ Chăm hơi lạ. Khi đang bước vào bên trong, QĐC ra chào lịch sự: Hello sir, how are you? Are you Po Dharma? Vì Po Dharma đang nói chuyện với thầy Nguyễn Văn Tỷ nên không kịp trả lời cho QĐC.

Đoạn, khi ngồi trong phòng nói chuyện chào hỏi nhau, Po Dharma hỏi người bên cạnh, ai mặc áo trắng ngồi ở giữa đấy? trả lời, đó là QĐC chuyên viên ngồi máy tính,…v/v. Po Dharma nói với người bên cạnh, nghe tên QĐC lâu rồi, nhưng hôm nay mới gặp. Nhưng nó có sao không? Sao gặp tui mà nó chào hỏi bằng tiếng anh, nó không biết tôi là người Chăm hả? người bên cạnh trả lời, QĐC mới học cao đẳng ngoại ngữ nên sổ tiếng Anh đấy mà. Po Dharma, thành ra là như vậy.

Khi hỏi chữ Chăm treo trên băng rôn trước cửa viết bằng chữ gì? Một người trong BBSSCC trả lời đó là chữ Chăm viết Hoa (Chữ in).

Po Dharma cười và nói, trong các chữ viết chỉ có chữ viết Latin mới có chữ viết Hoa (chữ in), ngoài ra các chữ khác không có chữ viết Hoa như chữ Hán (chữ Hán phồn thể và giản thể), chữ Ả Rập, chữ Brahmi, chữ Deva Devanagari, chữ Jawi,… Do đó, vấn đề BBSSCC muốn tạo akhar Thrah có chữ viết hoa thì cần phải xem lại.

Lúc đó mọi người trong phòng im lặng và không ai lên tiếng. Từ đó, quan điểm muốn tạo akhar Thrah viết Hoa không tiến hành nữa và cũng từ đó ít ai nhắc đến chữ Thrah có viết in Hoa.

Lời bàn: Po Dharma là người có tầm hiểu biết rộng không những về lịch sử là chuyên ngành chính của ông mà ông còn rất giỏi về lịch sử ngôn ngữ và ý thức bảo tồn văn hóa và ngôn ngữ Chăm.

3. Tại sao Champa mất nước

Trong một lần trao đổi bên lề Hội thảo tại Hà Nội gồm một số chuyên gia sử học, Gs. Trần Quốc Vượng là cây đại thụ của nền sử học Việt Nam hỏi Pgs. Po Dharma, ông cho biết ngắn gọn tại sao Champa mất nước?

Po Dharma liền liệt kê một số lý do cơ bản như:

- Chính sách mở rộng bờ cõi của Đại Việt: Trong giai đoạn lịch sử này, Champa cũng có một vài chiến tranh với nước láng giềng như Siam, Campuchia,… Nhưng đây là chiến tranh chinh phạt nhằm làm suy yếu quân sự và chính trị của đối phương, sau đó quân lính quay trở về. Champa không có chính sách xâm lược nước khác. Nhưng ngược lại quan điểm chiến tranh của Đại Việt thì hoàn toàn khác là nhằm chinh phạt đối phương, chiếm đoạt tài sản, đất đai của đối phương và sáp nhập lãnh thổ vào Đại Việt và đồng hóa văn hóa dân tộc khác.

- Mỹ nhân kế: Cuộc hôn nhân giữa vua Chế Mân và công chúa Huyền Trân của Trần Nhân Tông  vào năm 1301 để tìm cách lấy hai châu Ô và châu Lý. Cuộc hôn nhân của vua Po Romé và công nữ Ngọc Khoa của nhà Nguyễn vào năm 1631. Theo Champa, công nữ Ngọc Khoa là gián điệp để trình báo cho nhà Nguyễn biết mọi chi tiết về tổ chức chính trị và quân sự của Champa. Cuối cùng Po Romé bị bắt trong cuộc tấn công của nhà Nguyễn và đem nhốt trong rọ sắt để đưa về Thuận Hóa.

- Làn sóng di dân của người Việt: Do thiếu đất đai canh tác, vua chúa nhà Nguyễn khuyến khích người Việt tiến về phía Nam của Champa để khai thác. Do người Việt hiện diện trên đất Champa ngày càng đông, nhà Nguyễn bắt đầu can thiệp vào nội bộ Champa nhằm bảo vệ quyền lợi cho cư dân Việt. Từ đó, những cư dân này là lực lượng tham gia chiến tranh chống lại Champa.

- Các cuộc nội chiến giữa dân tộc Việt: Trong cuộc chiến giữa chúa Trịnh và chúa Nguyễn, chúa Nguyễn phát động cuộc Nam Tiến, nghĩa là tiến quân xâm chiếm Champa và cũng cố thế lực quân sự. Cũng như cuộc nội chiến giữa quân Tây Sơn và Nguyễn Ánh, đã biến Champa thành căn cứ điểm quân sự. Hơn nữa, các lãnh đạo Champa cũng bị chia thành hai nhóm và sau đó phải thanh trừng lẫn nhau. Và nhiều lý do khác…

Po Dharma tiếp, nói ngắn gọn lại “nếu Đại Việt không xâm chiếm Champa, và hôm nay nếu không có sự hiện diện của người Việt trên mãnh đất Champa thì Champa không mất nước vào năm 1832.”

Lúc đó Gs. Trần Quốc Vượng nhìn Po Dharma cười và tiếp, thôi nói gì nói đều thua lý ông giáo sư Chàm này (Gs. Trần Quốc Vượng rất thân Pgs. Po Dharma).

Lời bàn:  Po Dhama là người sắc xảo trên bình diện đánh giá và phê bình lịch sử. Trong khi các Gs người Việt cỗ vũ cho cuộc Nam tiến mở mang bờ cõi của Đại Việt, thì Pgs Po Dharma đã đứng bên thua cuộc để luận giải. Ẩn ý ở đây là nếu chiến thắng mà không chính nghĩa thì không vinh quang và không có gì là đáng ca ngợi. Ông chỉ ra những động cơ và mục đích xâm lược của Đại Việt là không chính nghĩa; và các thủ pháp thấp hèn như mỹ nhân kế để giết Vua Champa trái với luân thường đạo lý cần không được hoan nghênh.

4. Tại sao Champa đấu tranh đòi công nhận dân tộc bản địa tại Việt Nam

Dân tộc bản địa (indigenous peoples) và dân tộc thiểu số (minorities) là hai khái niệm pháp lý hoàn toàn khác nhau, được sử dụng chính thức trong các văn bản của Liên Hợp Quốc.

Quyền dân tộc bản địa là công ước quốc tế phức tạp nhất đã diễn ra tại Liên Hiệp Quốc. Sau 20 năm thương thuyết gay go, Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc đã thông qua bản Tuyên Ngôn về quyền của các dân tộc bản địa (the Declaration on the Rights of the Indigenous Peoples) tại New York vào ngày 3 tháng 9 năm 2007. Việt Nam là thành viên của Liên Hiệp Quốc đã ký tên vào bản Tuyên Ngôn này.

Theo khái niệm của Liên Hiệp Quốc, dân tộc bản địa là tập thể tộc người đã có mặt trên dải đất của họ đang sinh sống từ lâu đời. Dựa vào qui ước này, dân tộc Chăm và dân tộc Tây Nguyên ở miền trung Việt Nam là thành phần dân tộc bản địa. Vì họ đã có mặt tại miền trung Việt Nam từ hàng trăm thế kỷ qua, trong khi đó sự hiện diện của dân tộc Kinh trên lãnh thổ miền trung chỉ xảy ra sau thế kỷ thứ 10 qua các cuộc Nam Tiến nhằm chiếm đóng vương quốc Champa từng giai đoạn vào năm 1069, 1306, 1471, 1611, 1653 và 1832, tức là năm đánh dấu vương quốc Champa bị xóa bỏ trên bản đồ.

Dân tộc thiểu số là nhóm công dân của quốc gia có chủ quyền đến định cư tại một nước khác và được chính quyền công nhận họ như nhóm người có qui chế cư trú thường trực hay công dân của quốc gia này. Người Hoa, Thái, Lào, Ấn Ðộ, v.v. tại Việt Nam hôm nay là thành phần dân tộc thiểu số so với dân số của người Kinh, vì họ là thần dân của một quốc gia khác sang định cư tại Việt Nam.

Ðó là hai khái niệm rõ ràng về dân tộc bản địa và dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, hai khái niệm này thường được sử dụng một cách nhầm lẫn ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, do tính chất nhạy cảm từ các góc độ chính trị, lịch sử, kinh tế, tôn giáo, chủng tộc, sắc tộc và xã hội. Mặc dù đã ký vào bản Tuyên Ngôn về quyền của các dân tộc bản địa (the Declaration on the Rights of the Indigenous Peoples), nhưng một số quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam lại phủ nhận sự hiện diện của dân tộc bản địa trên lãnh thổ của họ nhưng lại chấp nhận qui chế dân tộc thiểu số trên văn kiện chính thức của các quốc gia này.

Trong quá trình lịch sử thế giới, người dân bản địa phải chịu nhiều thống khổ và bất hạnh nhất bởi nhóm thực dân từ bên ngoài thường dùng quyền lực để xâm chiếm đất đai của họ. Kể từ đó, họ thường bị xua đuổi, truy bức và trở thành công dân ngoại lệ trong quốc gia mà họ đang sinh sống, trong khi đó đất đai họ đang sống là do tổ tiên của họ khai phá. Dân tộc Chăm là thành phần nằm trong nhóm người bất hạnh này.

Bản “Tuyên Ngôn về Quyền của Dân Tộc Bản Địa” vào năm 2007 đã được thông qua bởi 143 quốc gia ủng hộ, 4 phiếuchống (Úc, Canada, New Zealand và Hoa Kỳ) và 11 phiếu trắng (Azerbaijan, Bangladesh, Bhutan, Burundi, Cô-lôm-bi-a,Georgia, Kenya, Nigeria, Nga Liên đoàn, Samoa và Ukraine). Việt Nam là quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc đã ký vào bản Tuyên Ngôn này.

Sau ngày ra đời của Tuyên Ngôn vào năm 2007, Nhật Bản (quốc gia ký tên) và 4 quốc gia khác, mặc dù không ký tên (Úc, Canada, New Zealand và Hoa Kỳ) đã công nhận chính thực nội dung của bản Tuyên Ngôn về dân tộc bản địa.

Úc Đại Lợi xin lỗi dân tộc bản địa: Tháng 2 năm 2008, ông Kevin Rudd (Thủ Tướng Úc) và ông Brendan Nelson (Chủ Tịch đảng đối lập) đứng ra trước QuốcHội để để xin lỗi chính thức về “tội ác trong quá khứ” (crimes commis par le passé) của nhà nước Úc Đại Lợi đối với dân tộc bản địa của quốc gia này.

Nouvelle-Zelande công nhận dân Maori bản địa: Ngày 21-4-2010, ông Pitar Sharples (Bộ Trưởng đặc trách dân tộc Maori) đứng ra tuyên bố trước Hội Đồng LHQ tại hội trường New York: “Nouvelle-Zelande quyết định công nhận quyền của dân tộc bản địa Maori tại quốc gia này và cố gắng thực thi những điều lệ nằm trong bản Tuyên Ngôn LHQ về quyền của dân tộc bản địa”. Để trả lời cho Pitar Sharples, dân biểu gốc dân bản địa Maori cho rằng: “quốc gia của chúng tôi đã từng đưa ra đạo luật để bảo vệ quyền của người phụ nữ, quyền của người lao động và cả quyền của thú vật như con chó. Thế thì đây cũng là thời điểm mà quốc gia Nouvelle-Zelande nên công nhận nhóm người Maori là dân tộc bản địa tại quốc gia này”

Gia Nã Đại xin lỗi dân tộc bản địa: Ngày 11-6-2008, ông Stephen Harper, Thủ Tướng Gia Nã Đại, đứng ra xin lỗi về những sai lầm của nhà nước Gia Nã Đại đã cố tình tài trợ cho chương trình đồng hóa 150.000 đứa trẻ của dân tộc bản địa thành nhóm người công giáo tại quốc gia này. Nhân dịp này, ông Stephen Harper tuyền bố rằng: "Chính phủ Canada chân thành xin lỗi người dân bản địa của đất nước này về những thái độ thiếu công bằng đối với dân tộc bản địa. Xin lỗi”.

Nhật bản công nhận Ainou là dân tộc bản địa: Tại hòn đảo Hokkaido mà Nhật Hoàng đã chiếm đóng vào thế kỷ thứ XIII, có vào khoảng 150.000 người dân bản địa Ainou, nhưng bị xếp vào thành phần dân tộc thiểu số như người Đại Hàn, Trung Hoa, v.v. Vào tháng 6 năm 2008, quốc hội Nhật Bản bỏ phiếu công nhận chính thức người Ainou sinh sống tại hòn đảo Hokkaido là dân tộc bản địa phù hợp với Tuyên Ngôn của Liên Hiệp Quốc ra đời vào năm 2007.

Hoa Kỳ bồi thường đất đai dân tộc bản địa: Ngày 6-12-2012, tổng thống Mỹ Barak Obama đã gặp gỡ các nhà lãnh đạo của 157 bộ tộc dân da đỏ bản địa của Hoa Kỳ trong cuộc đối thoại đã diễn ra tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Đây là cuộc đối thoại chưa từng xảy ra trong lịch sử giữa Tổng Thống Hoa Kỳ với các dân tộc bản địa tại quốc gia này kể từ năm 2009. Nhân dịp này, tổng thống Barak Obama tuyên bố chính phủ liên bang của Hoa Kỳ sẽ trích ngân sách 3,4 tỷ đôla để bồi thường đất đai của dân tộc bản địa bị chiếm đoạt.

Obama tiếp đón dân tộc bản địa Hoa Kỳ

- Dân tộc bản địa tại Malaysia: Ngày nay, Sarawak là tiểu bang có khoảng 2 triệu 4 trăm ngàn dân số trong khi đó Sabah có vào khoảng 3 triệu 1 trăm ngàn người. Sarawak và Sabah là khu vực nằm trong liêng bang Mã Lai nhưng hưởng qui chế tự trị, có biên giới riêng, quốc hội riêng, nội các chính phủ riêng, ngoại trừ bộ ngoại giao và bộ quốc phòng, thuộc về quyền của trung ương liên bang.

Sarawak và Sabah là nơi tập trung rất nhiều thành phần dân tộc bản địa. Mỗi dân tộc có nền văn hoá, ngôn ngữ và hệ thống tổ chức gia đình và xã hội riêng. Tại Sarawak, dân tộc Iban và Bidayuh được xem như là thành phần tiêu biểu nhất về mặt văn hoá mà ai cũng biết đến, trong khi đó ở Sabah có dân tộc Kadazan-Dusun và Bajau.

Dân tộc bản địa Sabah

- Dân tộc bản địa tại Philippines: Ngày 14-7-2013, một số báo chí quốc tế loan tin rằng chính phủ Philippines (Phi Luật Tân) đã thỏa thuận với dân tộc bản địa Moro của nước này để chia sẻ tài nguyên thiên nhiên ở vùng Mindanao nơi tập trung đông đảo dân tộc Moro. Tổ chức đấu tranh của dân tộc bản địa Moro mang tên là “Mặt Trận Giải Phóng Hồi Giáo Moro” viết tắt là MILF sẽ nhận 75% các nguồn tài nguyên vàng, đồng và các nguồn khai thác khác nằm trên lãnh thổ của dân tộc Moro. Thỏa thuận đạt được sau một đàm phán kéo dài nhằm chấm dứt xung đột giữa dân tộc Moro và chính quyền Philippines trong suốt 40 năm, đã làm thiệt mạng ước tính 120.000 người. Sau 6 ngày hội đàm ở thủ đô Kuala Lumpur của Malaysia, chính phủ Philippines và Mặt Trận Giải Phóng Hồi Giáo Moro đã ký kết một hiệp định thỏa thuận vào ngày chủ nhật 14-7-2013. Theo hiệp định này, chính phủ Philippines đồng ý trao nhiều quyền tự chủ hơn cho dân tộc bản địa Moro tại Mindanao ở khu vực thuộc miền Nam.

- Dân tộc bản địa tại Đài Loan: Ngày 16-1-2016, bà Tsai Ing Wen đắc cử Tổng Thống Đài Loan tuyên thệ nhậm chức vào ngày 20-5-2016. Ba tháng sau, tức là ngày 1-8-2016, hàng loạt báo chí và truyền hình ở Âu Châu đã loan tin rầm rộ về bà Tsai Ing Wen, Tổng Thống Đài Loan, một vị nguyên thủ quốc gia đầu tiên trong khu vực Đông Nam Á, đã đứng ra trình bày lời xin lỗi chính thức đối với dân tộc bản địa của Đài Loan về những thống khổ cua họ đã diễn ra trong nhiều thế kỷ tại hòn đảo này.

Dân tộc bản địa Đài Loan

Trong bài diễn văn đọc trước hội đồng bản địa, Tổng Thống Tsai Ing Wen hứa rằng Bà sẽ đứng ra điều hành một uỷ ban để điều tra những bất công trong quá khứ mà dân tộc bản địa đã gánh chịu. Đây là phần của nỗ lực của chính phủ Đài Loan nhằm mang lại cho cộng đồng bản địa những quyền cơ bản của con người.

Bà Tsai Ing Wen, tổng thống Đài Loan và ông Capen Nganaen

đại diện dân tộc bản địa tại thủ đô Đài Bắc ngày 1-8-2016

Dân tộc Chăm và Tây Nguyên là thần dân của vương quốc Champa và dân tộc Kampuchia Krom là thần dân của vươngquốc Campuchia. Họ là tập thể dân tộc đã có mặt trên giải đất miền nam Việt Nam kể từ hàng trăm thế kỷ về trước. Tiếc rằng, chính sách Nam Tiến của dân tộc Việt kể từ thế kỷ thứ 10, đã biến đất đai của họ chạy dài từ tỉnh Quảng Bình đến mũi Cà Mau, trở thành lãnh thổ của quốc gia Việt Nam hôm nay.

Dựa vào quan điểm của Liên Hiệp Quốc về dân tộc bản địa, cộng đồng người Chăm, Tây Ngyên và Kampuchia Krom hôm nay đang nổ lực đấu tranh đòi công nhận dân tộc bản địa.

Đấu tranh đòi quyền dân tộc bản địa là công trình đòi hỏi nhiều nghị lực, sức lực và thời gian. Và đấu tranh đòi quyền dân tộc Chăm bản địa càng đòi hỏi nhiều thử thách hơn, nhất là ý chí cương quyết của toàn thể cộng đồng Chăm, từ giai cấp bô lão, nhân sĩ, trí thức cho đến lực lượng thanh niên Chăm trong và ngoài nước. Đây không phải là cuộc đấu tranh phi pháp nhằm chống phá nhà nước Việt Nam mà là cuộc vận động hoàn toàn hợp pháp phù hợp với Tuyên Ngôn của Liên Hiệp Quốc ra đời vào năm 2007 mà Việt Nam là quốc gia thành viên đã ký vào hiến chương này.

            Gần mấy năm qua, Hội Đồng Bản Địa Việt Nam chỉ chọn diễn đàn Liên Hiệp Quốc ở New York và Geneva để làm cơ sở cho cuộc vận động đấu tranh bảo vệ quyền bản địa của dân tộc Chăm, Tây Nguyên và Kampuchia Krom. Kể từ năm 2017 cuộc đấu tranh của Hội Đồng Bản Địa Việt Nam bắt đầu chuyển sang giai đoạn mới bằng cách tìm mọi cách để chinh phục các quốc gia ở khu vực Đông Nam Á, nhất là quốc gia nằm trong tổ chức ASEAN gây áp lực với nhà nước Việt Nam phải tôn trọng chữ ký của mình trên Tuyên Ngôn của Liên Hiệp Quốc về Quyền của Dân Tộc Bản Địa. Kể từ đó, vận động các quốc gia ASEAN ủng hộ cho mục tiêu đấu tranh của Hội Đồng Bản Địa Việt Nam trở thành chiến lược hàng đầu đáng được thực hiện.

Lời bàn: So sánh với các nước khác trên thế giới, dân tộc Chăm xứng đáng được công nhận dân tộc bản địa và hưởng các quy chế về dân tộc bản địa. Công cuộc đấu tranh đòi quyền bản địa cho dân tộc Chăm, các dân tộc miền trung Tây nguyên và Kampuchia Krom được Po Dharma dày công nghiên cứu và tổ chức nhiều hội luận để bàn vấn đề này. Rất tiếc ông đã ra đi khi công cuộc đấu tranh còn dang dở. Điều này nhắc nhở các thế hệ trẻ Champa cần tiếp tục duy trì ngọn lửa đấu tranh không mệt mỏi của Po Dhama và các thế hệ đi trước để đòi lại công lý cho dân tộc Chăm và các dân tộc bản địa khác ở Việt Nam.

 

TS. Putra Podam

Đại học UTM, Malaysia; Đại học Tây Nguyên, Việt Nam

Email: putrapodam@yahoo.com

Facebook: Putra Podam