Những mẫu chuyện của Po Dharma (Phần 3)

Written by Putra Podam
In category Nghiên cứu
Oct 27, 2019, 11:54 PM

Người Chăm trong nước và hải ngoại ai ai cũng biết rằng Pgs.Ts Po Dharma là một nhà khoa học lịch sử, có kiến thức uyên thâm hơn người (yang traok) và cũng là một nhà cách mạng lỗi lạc. Wa mất đi nhưng tên tuổi của Wa đã đi vào lịch sử Champa của thế kỷ 20 và trong hai thập kỷ đầu của thế kỷ 21. Po Dharma là một tấm gương sáng cho thế hệ trẻ Chăm và cộng đồng Champa noi theo và ông cũng là một bậc thầy luôn sống mãi trong lòng cộng đồng Champa. Ông là một người Chăm Balamon, am hiểu sâu sắc về lễ tục Katé nói riêng và văn hóa Chăm nói chung. Po Dharma là người thẳng thắng, cương trực, bản lĩnh kiên cường và sử lý thông minh, khôn khéo khi biết một Hội đoàn Chăm tổ chức Katé không đúng với truyền thống. Putra Podam đã có dịp trao đổi với Po Dharma về đề tài này. Sau đây là những mẫu chuyện được chính Po Dharma chia sẻ trong những lần trao đổi, nay tôi xin phép lượt kể lại dưới đây để cộng đồng Chăm ta hiểu thêm.

1. Kate ra đời từ thời Po Rome?

            Theo Pgs.Ts. Po Dharma, Katé là lễ tục của người Chăm Balamon mục đích xin đấng thần linh Champa (chứ không phải anh hùng liệt sĩ Champa) nhằm đem lại sự an bình và thịnh vượng cho cộng đồng. Trước tiên, Katé diễn ra trên đền tháp đặt dưới sự chủ trì của chức sắc Chăm Balamon. Tiếp theo là Katé tổ chức trong làng và gia đình của những người theo tín ngưỡng Balamon. Trong dịp lễ tục này, những người theo tín ngưỡng Awal hay Islam không làm lễ Katé trong thôn làng và gia đình của họ.

            Katé trước kia thường diễn ra hàng năm trên ba đền tháp ở Ninh Thuận, ngày nay Katé diễn ra cả ở đền và Tháp ở Bình Thuận và Ninh Thuận. Ở Ninh Thuận, Katé diễn ra tại tháp Po Klaong Garai (thế kỷ XIV), đền Po Ina Nagar (trước kia diễn ra tại đền ở Nha Trang, thế kỷ VIII) và tháp Po Rome (thế kỷ XVII). Tại ba đền tháp này, Katé là buổi lễ dành cho 3 vị thần như lễ rước y trang, lễ tắm rửa thần linh, lễ mặc y trang và dâng hương. Trong đó, Po Klaong Garai (tượng Mukha Linga, thần Shiava của Ấn Giáo), Po Ina Nagar (phu nhân của Shiva) và Po Rome (tượng Mukha Linga, thần Shiava của Ấn Giáo, sau khi từ trần). Còn một số vị thần linh khác chỉ là nhân vật phụ của buổi lễ.

Katé thường diễn ra trên đền Po Rome, nhằm tôn vinh vị thần Po Rome, vị vua Champa đã hóa thân thành thần linh có 8 cánh tay. Trong ngày lễ Katé, ông Kadhar thường nhắc đến các vị thần linh Awal (người Hồi Giáo), đa số các nhân vật có nguồn gốc từ Mã Lai đến giúp Champa từ thế kỷ XVII, như Po Ali, Fatimah (phu nhân của Ali), Po Haniim Pan, Patao Yang-in, Po Tang, Po Gihlau, Po Biruw, Po Riyak, Nai Mâh Ghang Tang Nagar,…

Tượng Po Romé (có 8 cánh tay) dưới hình thể Mukha Linga

của Ấn Giáo chứ không phải vua Champa bản địa

 

Thêm vào đó, những bia ký ở Champa viết trước thế kỷ thứ XV, các nhà khoa học đã không tìm thấy tài liệu nào nhắc đến lễ Katé. Điều này đã chứng minh rằng Katé không phải lễ tục xuất hiện dưới thời liên bang Champa mà chỉ hình thành sau thế kỷ thứ XV tại tiểu bang Panduranga.

Từ 4 yếu tố trên, Po Dharma cũng như một số nhà nghiên cứu trong và ngoài nước kết luận rằng, Katé ra đời từ triều đại của vua Po Rome chứ không thể ra đời từ thời Sa Huỳnh như một số người suy đoán. Nếu Katé ra đời từ thời Sa Huỳnh (1000 năm trước Công Nguyên), thì Katé phải diễn ra tại làng Sa Huỳnh và tôn vinh những vị thần linh của thời Sa Huỳnh.

2. Lễ và Hội Katé trước và sau năm 1965

Katé thường diễn ra vào ngày 1 tháng 7 Chăm lịch do chức sắc, tu sĩ Balamon đảm nhiệm. Trước 1965, Katé chỉ diễn ra ở Ninh Thuận, còn Bình Thuận không tổ chức lễ tục Katé trên đền tháp, vì  không có Po Adhia. Katé trước kia chỉ thực hiện phần Lễ tục (không có phần Hội) diễn ra trên đền tháp Po Klaong Garai, Po Ina Nagar và Po Rome rất buồn tể và ảm đảm. Chỉ một số gia đình Balamon, thường là người già mặc quần áo lượm thượm lên tháp vì họ đã hứa với thần linh để cúng và cầu xin gì đó. Katé không thấy bóng dáng của thanh niên thanh nữ Chăm, cũng như không thấy nghe ai nói đến Katé và cũng không có ai lên đền tháp để chúc mừng Katé như ngày hôm nay.

Năm 1965, nhân dịp phái đoàn Trung ương và khách nước ngoài từ Saigon đến thăm Phan Rang. Nhân dịp Katé, Quận trưởng lúc bấy giờ là ông Dương Tấn Sở đã ra thông báo cho các đơn vị chuẩn bị Katé và đón phái đoàn. Hai người tích cực nhất là thầy Thành Phú Bá, quản đốc trường An Phước và thầy Đàng Năng Quạ hướng dẫn cho học sinh dọn dẹp vệ sinh tháp, tập văn nghệ,… và đoàn thiện chí Chăm của thầy Po Dharma xây dựng bậc đường đi lên tháp và xây cổng trước đền Po Klaong Garai, Cei Xí (ở Văn Lâm) làm trưởng ban thông tin quận thông báo cho các thanh niên Chăm chuẩn bị văn nghệ và phân công tiếp phái đoàn.

            Theo Po Dharma, khi phái đoàn Trung ương đến, thấy những cụ già, bô lão Chăm mặc trang phục truyền thống Chăm lên tháp, những thanh niên của Đoàn Thiện chí Chăm đón khách và sắp xếp trật tự, những điệu múa Chăm của các em học sinh và một số làng trình diễn, những âm thanh của tiếng trống, tiếng kèn Saranai vừa trầm vừa rộn ràng vang xa cùng với nghi thức đốt trầm hương được diễn ra trong bầu không khí trang trọng, những lời cầu khấn với hy vọng lời ước nguyện được những làn khói của nén trầm hương đang tỏa ra gửi đến tận trời xanh. Những tốp vẫy tay chào và phất cờ Cộng hòa khi phái đoàn lên tháp. Xung quanh cảnh trên tháp hôm đó thật trang nghiêm và đầy ý nghĩa.

Sau năm 1965, mỗi khi Katé đến, thì học sinh trường Trung học An Phước, các đơn vị có người Chăm công tác, một số làng Chăm, bô lão Chăm và cả cộng đồng Chăm lại chuẩn bị phần Hội Katé thật chu đáo và nhộn nhịp. Từ đó, vài năm về sau Katé không chỉ những được tổ chức trên tháp mà Katé còn tổ chức ở trong làng của những người Chăm Balamon cho đến ngày hôm nay. Do đó, mỗi khi Katé đến chúng ta hãy tưởng nhớ đến công lao của wa Dương Tấn Sở người đã có công gầy dựng phần Hội của Katé để trở thành Lễ Hội Katé như ngày hôm nay.

3. Katé là tín ngưỡng tôn giáo Balamon hay tín ngưỡng Champa bản địa?

Theo Pgs.Ts. Po Dharma, và một số nhà nghiên cứu Tây Phương, Champa độc lập từ thế kỷ thứ 2 (năm 192) sau công nguyên, từ lúc hình thành cho đến thế kỷ thứ XV, Champa ảnh hưởng rõ nét của một nền văn hóa Ấn giáo. Sau thế kỷ thứ XV, Champa bắt đầu xa lánh nền tảng Ấn Giáo nhằm xây dựng cho mình một hệ thống tín ngưỡng mang tính cách hỗn hợp giữa yếu tố Champa bản địa và yếu tố Ấn Giáo cộng thêm văn hóa Hồi Giáo kể từ thế kỷ thứ XVI. Katé là một thí dụ điển hình, vì lễ tục này sự hòa hợp giữa yếu tố Champa bản địa và Balamon Giáo, chứ không phải là lễ tục hoàn toàn mang màu sắc Champa bản địa như một số người suy đoán.

Tượng Po Klaong Garai dưới hình thể Mukha Linga (thần Shiava)

của Ấn Giáo chứ không phải vua Champa bản địa

 

Tượng Po Romé, Po Klaong Garai, và nữ thần Po Ina Nagar mà người Chăm đang tôn thờ trong ngày Katé không phải là tượng thần của người Champa bản địa mà là hình tượng của thần linh Ấn Giáo. Hơn nữa, các bài phúng điếu thường viết trên lá buông (agal bac) mà Po Adhia đọc trong ngày lễ Katé là văn bản Phạn ngữ chứ không phải là Chăm ngữ với nội dung thường lập đi lập lại Om nama sibayong (Om, nhân danh đấng Shiva). Sibayong là thần Shiva phát xuất từ Ấn Giáo chứ không phải thần linh của người Champa bản địa.

Về kiến trúc, tất cả đền tháp Champa đều mang phong cách kiến trúc của Ấn Giáo để thờ thần linh Ấn Giáo, chứ không phải đền tháp xây dựng theo phong cách của người Chăm bản địa để thờ vua Champa bản địa.

Hơn nữa tên các vị tu sĩ Balamon đều có nguồn gốc từ Ấn giáo như Po Adhia (Ấn giáo là Adya), Po Bac (Baca), Basaih (Vasa), Camnei (Cramana), Kadhar (Gandarva),… họ kiêng cử thịt bò, khi chủ trì lễ tục hay điều hành buổi lễ Katé, những vị chức sắc này đều mang phong cách ảnh hưởng Ấn Giáo đậm nét chứ không phải các vị tu sĩ của người Chăm bản địa.

Dựa vào những tính chất vừa nêu trên về sự ảnh hưởng của Ấn giáo trong lễ tục Katé, chúng ta khẳng định rằng Katé là tín ngưỡng của tôn giáo Balamon chứ không phải là tín ngưỡng Champa bản địa.

4. Lễ hội Katé truyền thống có tưởng niệm người có công khai quốc, hát quốc ca và dâng vòng hoa chiến thắng hay không?

Lễ hội Katé ngày nay được tổ chức tại đền tháp cả Bình Thuận và Ninh Thuận. Ở Ninh Thuận, Katé thường diễn ra tại tháp Po Klaong Garai, Po Ina Nagar và Po Rome. Tại ba đền tháp này, Lễ tục Katé được thực hiện những khâu chính là lễ rước y trang, lễ tắm rửa thần linh, lễ mặc y trang và lễ dâng hương, sau đó có phần Hội được biễu diễn khác nhau tùy theo chương trình ở mỗi đền tháp. Trong buổi lễ Katé, ông Kadhar chỉ hát những bài nhằm tôn vinh các vị thần linh Champa, đặc biệt là các vị thần linh của Hồi Giáo. Trong bài hát này có nhắc đến vị thần Po Rome có 8 cánh tay biểu tượng của đấng Shiva ngồi gần con bò Nandin. Đây là danh sách các nhân vật được tôn vinh trong ngày Katé (nguồn tư liệu: CAM 148 của Viện Viễn Ðông Pháp) 1. Po Thun Girai Thun Cek; 2. Po Girai Bhaok; 3. Po Bia Binân; 4. Po Rome; 5. Po Sah; 6. Po Inâ Nagar; 7. Po Pan; 8. Po Klaong Kasat; 9. Cei Tathun; 10. Po Praok Thuer ; 11. Praok Dhar ; 12. Po Ginuer Matri; 13. Po Bia Nai Kuer; 14. Po Bia Patao Yang-in; 15. Po Tang; 16. Po Gihlau; 17. Po Biruw; 18. Po Riyak; 19. Po Li; 20. Po Fatimah; 21. Po Than; 22. Po Thai; 23. Po Tang Haok; 24. Ong War Palei; 25. Cei Sit; 26. Cei Praong; 27. Cei Dalim; 28. Cei Sak Bingu; 29. Po Haniim Pan; 30. Nai Mâh Ghang Tang Nagar; 31. Po Patao Binthuer; 32. Dam Mbaok; 33. Dam Mbung; 34. Dam Tiap Pabuei; 35. Dam Tiap Pabaiy; 36. Yang Brait Yang Bri; 37. Po Mangi; 38. Po Manguw; 39. Nai Carao Craoh Bhaok; 40. Kadit Tanaow; 41. Kadit Binai; 42. Bia Soy; 43. Bia Binân; 44. Bia Juk; 45. Nai Lileng Tabeng Mâh; 46. Nai Lileng Bingu Tapah; 47. Po Kathit; 48. Po Kabrah; 49. Po Klaong Halau; 50. Po Klaong Can; 51. Patao Tabai; 52. Bia Mahik; 53. Ong Pasa Muk Cakléng.

Từ những minh chứng ở trên cho thấy, Katé được tổ chức tại hai tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận là không nhắc đến các tiền nhân có công khai quốc, không hát bài quốc ca, không nghi lễ một phút mặc niệm và không dâng vòng hoa chiến thắng trước đài tưởng niệm.

Khái niệm nghi lễ một phút mặc niệm để nhớ ơn những tiền nhân có công khai quốc chỉ ra đời dưới thời Napoleon (Pháp) vào thế kỷ XIX. Trong khi Katé ra đời từ triều đại của vua Po Rome vào thế kỷ XVII, do đó chúng ta cần khẳng định lại rằng Katé không nhằm mục đích để nhớ ơn các tiền nhân có công khai quốc, không hát bài quốc ca, không nghi lễ một phút mặc niệm và không dâng vòng hoa chiến thắng trước đài tưởng niệm như một số người suy đoán.

5. Quan niệm Katé không phải của Ahier mà là của cả dân tộc Chăm, đúng không?

Từ mục 3 đã khẳng định rằng “Katé là tín ngưỡng của tôn giáo Balamon”, và mục 2 khẳng định rằng “Katé ra đời từ thời Po Rome” trong khi đó thuật ngữ Ahier, Awal chỉ ra đời vào khoảng thế kỷ XVII dưới triều Po Rome. Hơn nữa ở hai tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận hiện nay, chúng ta thấy Katé được tổ chức hằng năm tại các đền tháp và trong làng của người Chăm theo tín ngưỡng Ahier và do các chức sắc Ahier đảm nhiệm. Katé không bao giờ tổ chức trong làng của người theo tín ngưỡng Awal hay trong làng của người theo Islam. Do đó chúng ta khẳng định rằng, “Katé luôn thuộc về những người theo tín ngưỡng Ahier và Katé không phải là của dân tộc Chăm”.

Hiện nay một vài cá nhân hay Hội đoàn cho rằng, Katé không phải của Ahier mà là của cả dân tộc Chăm bảo gồm cả Ahier, Awal và Islam”. Theo tôi, đây chỉ là một thể loại văn chương chính trị hay chủ thuyết quốc gia cực đoan nhằm thống trị hay nhằm để làm vừa lòng những người theo tín ngưỡng Awal hay Islam, trong khi Awal hay Islam không bao giờ tổ chức lễ Katé trong gia đình của họ. Ngược lại mỗi khi Katé đến thì toàn thể dân tộc Chăm hay Champa đều có quyền lên tháp để giúp đỡ nhau, cũng như trong tháng Ramadan thì những người theo tín ngưỡng Ahier có quyền đi cầu nguyện trong thánh đường của người Bani. Vì tín ngưỡng, tôn giáo là đức tin thiêng liêng của mỗi người, do đó các chức sắc, tu sĩ Awal hay Islam đều có quyền lên tháp, nhưng không được vào bên trong của tháp, bởi vì họ theo tôn giáo độc thần và chỉ thờ phụng Đấng Allah duy nhất.

Từ mục 1 khẳng định Katé ra đời từ triều đại của vua Po Rome chứ không thể ra đời từ thời Sa Huỳnh; Mục 2 khẳng định phần Hội Katé ra đời sau năm 1965; Mục 3 khẳng định Katé là tín ngưỡng của tôn giáo Balamon chứ không phải là tín ngưỡng Champa bản địa; Mục 4 khẳng định Katé không nhằm mục đích để nhớ ơn các tiền nhân có công khai quốc, không hát bài quốc ca, không nghi lễ một phút mặc niệm và không dâng vòng hoa chiến thắng trước đài tưởng niệm. Từ những luận giải và cơ sở khoa học ở trên, một lần nữa chúng ta cần khẳng định lại rằng, Katé là của người theo tín ngưỡng Ahier chứ không phải tín ngưỡng của dân tộc Chăm hay Champa.

 

 

TS. Putra Podam

Đại học UTM, Malaysia; Đại học Tây Nguyên, Việt Nam

Email: putrapodam@yahoo.com

Facebook: Putra Podam